Ho gà, triệu chứng, nguyên nhân, cách phòng ngừa


238

Ho gà là bệnh truyền nhiễm cấp tính do trực khuẩn ho gà gây nên. Bệnh lây theo đường hô hấp, biểu hiện lâm sàng bằng những cơn ho dữ dội, đặc biệt và có nhiều biến chứng.

Bài viết sau Ecomedic.vn sẽ giúp bạn nhận biết nguyên nhân triệu chứng và cách phòng bệnh ho gà.

Nguyên nhân

Nguyên nhân chính gây bệnh ho gà là do sự xâm nhập của vi khuẩn Bordetella pertussis đi vào đường hô hấp trên rồi sau đó khu trú và phát triển ở lông mao biểu mô trụ của đường thanh quản, khí quản, ở đó vi khuẩn sẽ tiết ra một loại độc tố Pertussis toxin đây là loại protein độc lực chính đóng vai trò gây bệnh.

 

Vi khuẩn Bordetella pertussis

Trong những ngày thời tiết thường xuyên ẩm ướt không khí không nóng cũng không lạnh chính là điều kiện lý tưởng để vi khuẩn Bordetella pertussis sinh sôi và phát triển nhanh chóng.

Dấu hiệu và triệu chứng

 

Trệu chứng bệnh ho gà

_ Ho gà có thể gây bệnh nghiêm trọng cho trẻ sơ sinh, trẻ em và người lớn. Bệnh thường bắt đầu bằng triệu chứng giống như cảm lạnh và có thể có ho ít hoặc sốt nhẹ. Sau 1- 2 tuần thì ho nhiều bắt đầu. Không giống như cảm lạnh, ho gà có thể biểu hiện một loạt các cơn ho liên tục trong nhiều tuần.

_ Ở trẻ sơ sinh, ho có thể tối thiểu hoặc thậm chí không có. Trẻ sơ sinh có thể có một triệu chứng là “ngừng thở”. Ngừng thở là một tình trạng tạm dừng hô hấp của trẻ. Ho gà là bệnh nguy hiểm nhất đối với trẻ nhỏ. Một nửa số trẻ nhỏ dưới 1 tuổi bị ho gà phải nhập viện.

_ Ho gà có thể gây ho dữ dội và ho nhanh, nhiều và nhiều nữa, cho tới khi khí ra khỏi phổi và trẻ/bạn phải hít vào gắng sức tạo ra một tiếng rít lớn. Ho dữ dội có thể khiến trẻ/bạn nôn khan và rất mệt. Thường không có tiếng rít và nhiễm trùng thường nhẹ hơn (ít nặng nề) ở thiếu niên và người lớn, đặc biệt là những người đã được tiêm chủng.

_ Các triệu chứng sớm có thể kéo dài trong 1 – 2 tuần và thường bao gồm

+ Chảy nước mũi.

+ Sốt nhẹ. (thường nhẹ trong suốt quá trình bệnh)

+ Ho nhẹ hoặc thúng thắng.

+ Ngừng thở – tạm dừng hô hấp (ở trẻ sơ sinh)

_ Bởi vì ho gà ở giai đoạn đầu dường như không có gì nhiều hơn so với cảm lạnh thông thường, cho nên nó thường ít được nghĩ tới và ít được chẩn đoán cho tới khi các triệu chứng nặng hơn xuất hiện. Người nhiễm bệnh dễ lây lan nhất vào khoảng 2 tuần sau khi bắt đầu ho. Kháng sinh có thể làm giảm khoảng thời gian dễ lây lan của người nhiễm bệnh.

_ Khi bệnh tiến triển, các triệu chứng điển hình/kinh điển của ho gà xuất hiện bao gồm:

+ Nhiều cơn ho nhanh theo sau bởi tiếng rít the thé.

+  Nôn mửa

+  Kiệt sức (rất mệt) sau mỗi cơn ho

_ Những cơn ho có thể xuất hiện liên tục trong ít nhất 10 tuần. Ở Trung Quốc, bệnh ho gà được gọi là “bệnh ho 100 ngày”.

_ Mặc dù trẻ/bạn thường kiệt sức sau mỗi cơn ho, nhưng trẻ/bạn lại thường có biểu hiện khá tốt giữa các cơn ho. Cơn ho thường trở lên phổ biến hơn và nghiêm trọng hơn khi bệnh tiến triển, và có thể xuất hiện nhiều hơn về ban đêm. Bệnh có thể nhẹ hơn (ít nghiêm trọng hơn) và không có tiếng rít điển hình ở trẻ em, thiếu niên và người lớn đã được tiêm vắc xin phòng bệnh ho gà.

_ Phục hồi sau ho gà có thể diễn ra chậm. Ho nhẹ hơn và ít hơn. Tuy nhiên, những cơn ho có thể quay lại vì nhiễm trùng hô hấp sau nhiều tháng sau khi mắc bệnh ho gà.

Biến chứng


_  Biến chứng hô hấp
+ Viêm phế quản: Trẻ sốt cao, nghe phổi có nhiều ran rít, ran ngáy. Đặc biệt ở một số trường hợp có thể gặp khạc ra đờm, mủ. Bạch cầu đa nhân trung tính ở máu ngoại vi tăng cao.

 

Bệnh gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm

+ Dãn phế quản: Thường là hậu quả của bội nhiễm phế quản – phổi. Thường khó phát hiện trên phim X quang thông tường. Trên phim chụp phế quản cản quang 50% trường hợp có dãn phế quản hình trụ hoặc hình ống, hình ảnh này sẽ hết khi khỏi bệnh ho gà.

+ Viêm phổi – phế quản: Là biến chứng hô hấp hay gặp, nhất là ở trẻ sơ sinh và trẻ suy dinh dưỡng. Bệnh nhân sốt cao, khó thở, nghe phổi có nhiều ran ẩm, ran nổ. X quang phổi có nhiều nốt mờ không đều rải rác 2 bên. Tử vong cao do suy hô hấp nếu không được điều trị kịp thời.

_ Biến chứng thần kinh

Viêm não là một biến chứng nặng của bệnh ho gà, tỷ lệ tử vong cao. Trẻ sốt rất cao, li bì, hôn mê, co giật. Nếu được cứu thoát có thể để lại di chứng như liệt nửa người, liệt một chi, liệt dây thần kinh so não hoặc rối loạn tâm thần.

_ Biến chứng cơ học: Lồng ruột, thoát vị, sa trực tràng. Trường hợp nặng có thể gặp vỡ phế nang, tràn khí trung thất hoặc tràn khí màng phổi.

_ Biến chứng khác: Xuất huyết võng mạc, kết mạc mắt, rối loạn nước điện giải, bội nhiễm các vi khuẩn khác.

Biện pháp phòng bệnh

– Vắc xin

Biện pháp phòng bệnh tốt nhất là tiêm phòng

Cách tốt nhất để dự phòng ho gà ở trẻ sơ sinh, trẻ em, thiếu niên và người lớn là tiêm chủng. Ngoài ra, giữ trẻ sơ sinh và người có nguy cơ cao bị biến chứng do bệnh ho gà xa những người bị nhiễm bệnh.

Điều dễ dàng nhất đối với người lớn cần làm là tiêm Tdap thay vì mũi Td tăng cường chống uốn ván định kỳ tiếp theo mà họ dự định tiêm mỗi 10 năm. Liều Tdap có thể được tiêm sớm hơn mốc 10 năm, do đó nó là một ý tưởng tốt đối với người lớn để nói chuyện với nhân viên chăm sóc sức khỏe về điều gì là tốt nhất cho tình huống đặc biệt của họ.

– Nhiễm trùng

Nếu bác sĩ xác định rằng đứa trẻ/bạn bị bệnh ho gà thì đứa trẻ/bạn sẽ có sự bảo vệ tự nhiên (miễn dịch) đối với nhiễm trùng trong tương lai. Một số nghiên cứu quan sát cho thấy rằng bệnh ho gà có thể cung cấp khả năng miễn dịch trong 4 – 20 năm.
Vì khả năng miễn dịch này giảm và không có khả năng bảo vệ suốt đời cho nên tiêm vắc xin dự phòng định kỳ được khuyến cáo.

– Kháng sinh

Nếu bạn hoặc một thành viên trong gia đình được chẩn đoán bệnh ho gà, bác sĩ hoặc cơ sở y tế địa phương có thể khuyên bạn nên dùng kháng sinh dự phòng (thuốc có thể giúp dự phòng các bệnh do vi khuẩn) cho các thành viên khác trong gia đình để ngăn chặn sự lây lan của bệnh.

Trẻ nhỏ dưới 12 tháng tuổi có nhiều nguy cơ mắc các biến chứng nghiêm trọng do bệnh ho gà. Mặc dù phụ nữ có thai không có nguy cơ gia tăng với bệnh nghiêm trọng, nhưng những phụ nữ mang thai trong thời kỳ ba tháng cuối sẽ được coi là có nguy cơ gia tang vì họ có thể khiến trẻ mới sinh của họ phơi nhiễm với bệnh ho gà. Bạn cần thảo thuận có hay không cần dùng thuốc kháng sinh dự phòng với bác sĩ, đặc biệt nếu có trẻ sơ sinh hoặc phụ nữ có thai trong gia đình bạn hoặc bạn có kế hoạch tiếp xúc với một trẻ sơ sinh hoặc phụ nữ có thai.

– Vệ sinh

Cũng giống như nhiều bệnh về đường hô hấp, bệnh ho gà lây lan qua ho và hắt hơi khi tiếp xúc gần gũi với người khác, sau đó họ hít phải vi khuẩn ho gà. Thực hành vệ sinh tốt luôn được khuyến cáo để dự phòng sự lây lan của bệnh lý đường hô hấp này:

– Che miệng và mũi bằng khan giấy khi ho và hắt hơi.

– Bỏ khan giấy đã dùng vào thùng rác.

– Nếu bạn không có khan giấy, thì ho hoặc hắt hơn vào tay áo trên hoặc khuỷu tay của bạn, không ho hoặc hắt hơn vào bàn tay bạn.

Nghi ngờ có dấu hiệu mắc bệnh?

Đừng ngại ĐẶT CÂU HỎI trực tuyến để được tư vấn miễn phí

 

Live Stream - Tư vấn sức khỏe

Bình luận

Có thể bạn quan tâm

 

Cẩm nang sức khỏe